Dân tộc Hrê
Người Hrê chủ yếu sống bằng nghề làm lúa nước và nương rẫy với kỹ thuật canh tác lúa nước như vùng đồng bằng Nam Trung bộ. Đồng bào chăn nuôi nhằm phục vụ các lễ cúng bái, riềng trâu còn được dùng để kéo cày. Nghề rèn, nghề đan lát, dệt khá phát triển, song nghề dệt đã bị mai một qua mấy thập niên gần đây.
Cũng như phong tục chung của đồng bào dân tộc thiểu số ở Trường Sơn - Tây Nguyên. Người H’rê cũng có lễ “Đâm Trâu” còn gọi là lễ “Ăn Trâu”. Người Hrê thích sáng tác thơ ca, ham mê ca hát, chơi các loại nhạc cụ Ka-choi và Ka-iêu đó và các làn điệu dân ca quen thuộc của đồng bào. Truyện cổ đề cập đến tình yêu chung thuỷ, cuộc đọ tài trí giữa thiện và ác, giàu và nghèo, rất hấp dẫn các thế hệ từ bao đời nay. Nhạc cụ của người Hrê gồm nhiều loại: đàn brook, chinh ka-la, sáo ling la, ống tiêu ta-lia, đàn ống bơ-bút của nữ giới, khèn ra-vai, ràng ngói, pơ-pen, trống… Những nhạc cụ được đồng bào quí nhất là cồng, chiêng, thường dùng bộ 3 chiếc, hoặc 5 chiếc, với các nhịp điều tấu khác nhau.
Trước đây đàn ông đóng khố, mặc áo cánh ngắn đến thắt lưng hoặc ở trần, quấn khăn; đan bà mặc váy hai tầng, áo 5 thân trùm khăn. Nam, nữ đều búi tóc cài trâm hoặc lông chim. Ngày nay, người Hrê mặc quần áo như người Kinh, riêng cách quấn khăn, trùm khăn vẫn như xưa. Phần lớn nữ giới vẫn mặc váy, nhưng may bằng các vải dệt công nghiệp hoặc vải dệt từ dân tộc khác. Người Hrê thích đeo trang sức bằng đồng, bạc, hạt cườm; nam nữ đều đeo vòng cổ, vòng tay, nữ có thêm vòng chân và hoa tai. Tục cà răng căng tai đã dần dần được xoá bỏ.
Người Hrê ở nhà sàn dài. Nay nhà dài hầu như không còn nữa, mặt sàn cao hơn mặt đất khoảng một mét nóc nhà có 2 mái chính lợp cỏ tranh, 2 mái phụ ở 2 đầu hồi lợp thụt sâu vào trong 2 mái chính, mái này có lớp ngoài còn thêm một lớp lợp giống như nóc nhà, vách dựng nghiêng phía trên ra ngoài. Chỏm đầu đốc có “bệ rừng” trang trí với nhiều kiểu cách khác nhau, hai gian đầu hồi để trống. Mỗi đầu sàn nhà đều có một khoảng không gian ngăn cách với trong nhà. Bộ khung nhà kết cấu đơn giản giống như nhà cửa của nhiều cư dân khác ở Trường Sơn - Tây Nguyên. Trong nhà (trừ 2 gian đầu hồi) không có vách ngăn. Gian hồi bên phải (nhìn vào mặt nhà) dành cho sinh hoạt của đàn ông và khách, gian hồi bên trái dành cho sinh hoạt của phụ nữ, giáp vách gian hồi bên phải là nơi đặt bếp chính. Gian chính giữa nhà đặt bếp phụ. Gian giáp vách với gian hồi đặt cối giã gạo.
Người Hrê cho rằng lực lượng siêu nhiên gồm nhiều thần linh mang tên gọi khác nhau, có nhiệm vụ cụ thể khác nhau. “Làng ma” là sự tưởng tượng của H’rê về cuộc sống của thế giới bên kia. Linh hồn người chết được biến thành ma và sống ở đó. Mọi sinh hoạt gần giống như làng của người sống nhưng trái ngược lại, như đêm là ngày... và ngược lại.
Tín ngưỡng “Hồn lúa” cùng các lễ thức trong quá trình làm lúa gạo chiếm một vị trí đáng kể, tập trung vào hai giai đoạn của mùa lúa. Khi gieo cấy và khi thu hoạch cất lúa vào kho. Vị trí của người đàn bà Chủ lúa - vợ chủ nhà - là người quản lý lương thực được coi là có liên quan hệ thần bí với “Hồn lúa”. Ngày cúng cơm mới người đàn bà chủ lúa lấy từ ruộng, rẫy mang về rang, giã gạo, nấu cơm cùng rồi chịu lễ và một mình ăn cơm nấu trong “nồi thiêng” cũng chỉ bà chủ lúa mới được tỉa lúa làm phép và đem gùi lúa đầu tiên về nhà nhập kho.
Các lễ cúng cầu sức khoẻ, cầu khỏi bệnh, cúng người chết, cúng đặt tên... đều được làm tại nhà. Có những nghi lễ thu hút đông đảo dân trong làng, người thân đến dư, nhất là lễ “ăn trâu”. Ngoài ra còn có những nghi lễ mang tính cộng đồng được già làng đứng ra làm chủ lễ và cả làng cùng tham gia nhằm cầu an lành, mưa thuận gió hoà, được mùa, no ấm và ngăn ngừa bệnh tật...
Cưới hỏi là một lễ trọng có quy định chặt chẽ từ trước đến nay không có gì thay đổi trên nền tảng cơ bản, chỉ có lễ tục thay đổi để phù hợp với thời đại. Nguyên tắc một vợ một chồng đã được xác định, dưới chế độ cũ một số người ở tầng lớp trên có 2 hoặc 3 vợ. Một số, người lấy vợ hai do hiếm con. Tập tục cho phép vợ goá được lấy em trai chồng, chồng có thể lấy em gái vợ. Quan hệ luyến ái ngược với luật tục bị phạt nặng, loạn làm coi là trọng tội. Đám cưới người Hrê thường tổ chức vào dịp cuối năm được dẫn ra trình tự 3 bước.
Bước thư nhất (Took taproi) đấy là bước khởi đầu đặt mối quan hệ sui gia giữa hai nhà. Bước thứ hai (Took niên) đây là nghi lễ (lên nhà) có quan niệm cho rằng ở bước này tương tự như lễ dạm hỏi của người Việt (Kinh). Thời điểm này hai gia đình chính thức thông báo với làng, với họ tộc về mối sui gia và đồng thời cùng bàn chuyện tổ chức đám cưới chính thức cho đôi trai gái... Bước thứ 3 (Kă ố oong mai) nghĩa tiếng việt là tổ chức ăn cùng vợ chồng. Đây là nghi lễ quan trọng đói với việc cưới của người Hrê, trong đó có nghi thức trao nắm cơm và sợi chỉ… Bên nào đón người về (làm dâu hoặc ở rể) thì đối tượng tổ chức với nghi lễ lớn hơn, họ mở tiệc mặn, có rượu cần đón khách, trò chuyện và ca hát vui vẻ. Gia đình chuẩn bị sẵn một gian bếp làm nơi nghỉ cho vợ chồng mới.
Tại đây diễn ra các nghi thức tượng trưng cho sự gắn bó vợ chồng. Đôi trai gái mới cưới trao nhau miếng trầu, bát rượu, quàng cung một vòng chỉ. Trong trường hợp đón dâu, nhà trai cử 1 cô gái đi đón về. Nhà gái cho một cô gái tiễn đưa. Đêm đầu người tiễn đưa ngủ lại cùng cô dâu, sáng hôm sau đôi tân hôn quay trở lại nhà bố mẹ vợ hoặc chồng rồi họ cùng nhau trở lại ngôi nhà đã định trước.
Minh Huyền
Read more:http://cema.gov.vn/modules.php?name=Content&op=details&mid=117449641#ixzz1gmvWUzg0
Phạm Xuân Đức @ 17:56 17/12/2011
Số lượt xem: 1242


Các ý kiến mới nhất